buppou

Trường Bộ Kinh · bài 13/34

Kinh Ba Minh

Tevijja Sutta

49 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài này là một cuộc tranh luận giữa hai người trẻ, và câu trả lời của Đức Thế Tôn làm cả hai im lặng — theo một cách không ai ngờ.

Cuộc tranh luận

Vāseṭṭha và Bhāradvāja là hai thanh niên Bà-la-môn, bạn của nhau. Họ cãi nhau một chuyện rất cũ và rất mới:

Con đường nào đưa đến cõi Phạm thiên?

Vāseṭṭha theo thầy mình, Bhāradvāja theo thầy mình. Mỗi vị thầy tụng một bộ Vệ-đà khác nhau. Mỗi bên nói: chỉ đường của tôi mới đúng.

Họ đến hỏi Đức Thế Tôn — không phải vì tin Ngài, mà vì không ai trong hai người chịu thua.

Chuỗi lập luận

Đức Thế Tôn không chọn bên nào. Ngài tra vấn Vāseṭṭha, và chuỗi câu hỏi ấy là cả bài:

Bước một — các vị thầy ấy có thấy tận mắt Phạm thiên không? Không. Thầy của các vị ấy? Không. Lùi lại bảy đời? Không.

Bước hai — nếu vậy thì cũng như những người mù dắt nhau đi: "người đi đầu không thấy, người ở giữa không thấy, người đi cuối không thấy." Và Ngài không ngại nói thẳng: lời của họ "hóa ra chỉ là chuyện đáng cười, chỉ là lời nói suông, chỉ là chuyện rỗng tuếch, chỉ là chuyện trống không."

Bước ba — một so sánh sắc hơn nữa: các vị ấy có thấy mặt trăng, mặt trời không? Có — ai cũng thấy, ai cũng cầu xin, cũng chắp tay đảnh lễ. Nhưng có ai trong số họ nói được "chỉ con đường này đưa đến chỗ đồng hành với mặt trăng, mặt trời" không? Không.

Vậy mà họ lại dám nói điều tương tự về Phạm thiên — một vị họ chưa từng thấy.

Ba ví dụ

Ba ví dụ tiếp theo ghép lại thành một chuỗi rất chặt:

Người đàn bà đẹp nhất xứ — nói yêu mà chưa từng thấy, chưa biết ở đâu.

Cái thang — dựng thang lên một tòa lâu đài mà không biết lâu đài ở đâu, cao bao nhiêu, bằng gì.

Dòng sông Aciravatī — người muốn sang bờ bên kia mà đứng ở bờ bên này, gọi: "Hãy đến đây, bờ bên kia ơi!" Bờ bên kia không vì tiếng gọi mà sang được.

Cả ba kết bằng cùng một câu: "Vậy là các bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà đã nói ra điều không có cơ sở."

Rồi Ngài vẫn dạy

Đây là chỗ đẹp nhất của bài.

Sau khi đã phá xong, Vāseṭṭha nói: "Con nghe nói sa-môn Gotama dạy con đường để cùng sống chung với Phạm thiên."

Đức Thế Tôn đáp: "Vậy thì hãy nghe cho kỹ."

Ngài vẫn dạy con đường ấy. Không phải để chứng minh các thầy bà-la-môn sai, mà vì hai người trẻ kia thật sự muốn biết.

Và con đường ấy là: bốn tâm vô lượng — từ, bi, hỷ, xả — trải khắp mọi phương.

Chỗ hội tụ

Phần cuối bài có tên "Hội tụ" và là một trong những đoạn lý luận gọn nhất trong Trường Bộ Kinh.

Đức Thế Tôn hỏi Vāseṭṭha: Phạm thiên có của cải không? Không. Có oán thù không? Không. Có sân hại không? Không. Có ô nhiễm không? Không. Có quyền năng không? Có.

Rồi Ngài áp từng câu: vị tỳ-kheo tu bốn tâm vô lượng cũng không của cải, không oán thù, không sân hại, không ô nhiễm, có quyền năng.

Vậy thì vị ấy có thể hội tụ với Phạm thiên không? Có thể.

Đó là một lập luận theo lối "cùng thuộc tính thì cùng chỗ". Nó không nói Phạm thiên là ai. Nó chỉ nói: nếu hai bên giống nhau ở những điểm ấy, thì khoảng cách giữa họ không còn.

Vì sao bài này đáng đọc

Vì nó là một trong những chỗ rõ nhất cho thấy Đức Thế Tôn không phá niềm tin để lấy chỗ cho mình.

Ngài phá lập luận của các thầy bà-la-môn — nhưng rồi vẫn dạy đúng cái điều họ muốn dạy: con đường đến cõi Phạm thiên. Ngài chỉ đổi phương tiện: không phải tụng kinh, cầu nguyện, mà là tu bốn tâm vô lượng.

Đó là cách một truyền thống được sửa từ bên trong, không bị đập bỏ từ bên ngoài.


Cấu trúc

MụcNội dungĐoạn
1Con đường nào là con đường, con đường nào không phải18
2Tra vấn Vāseṭṭha56
2.1Ví dụ người đàn bà đẹp nhất xứ25
2.2Ví dụ cái thang19
2.3Ví dụ dòng sông Aciravatī39
3Hội tụ54
4Dạy con đường đến cõi Phạm thiên43
(kết)Tóm tắt phẩm6

Con số

Từ (toàn bộ, kể cả chú thích, giới thiệu, phụ lục)11.372
Trang PTSi.235–252

Ghi chú về phần cuối

Sáu đoạn cuối bài là bài kệ tóm tắt phẩm — liệt kê mười ba bài đầu của Trường Bộ Kinh (từ Phạm Võng đến Ba Minh). Đây là dấu mốc quan trọng: bài 13 kết thúc phẩm Giới uẩn (Sīlakkhandha), tức mười ba bài đầu của bộ kinh.


Mục lục bài kinh
  1. Con đường nào là con đường, con đường nào không phải con đường
  2. Tra vấn Vāseṭṭha
  3. 1. Ví dụ người đàn bà đẹp nhất xứ
  4. 2. Ví dụ cái thang
  5. 3. Ví dụ dòng sông Aciravatī
  6. Hội tụ
  7. Dạy con đường đến cõi Phạm thiên
  8. Bảng thuật ngữ
  9. Nguồn tham khảo

Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang du hành trong xứ Kosala cùng với đại chúng tỳ-kheo khoảng năm trăm vị, thì đến Manasākaṭa, một làng bà-la-môn của xứ Kosala.

[Chú thích: Manasākaṭa chỉ được nhắc đến ở đây, không xuất hiện ở chỗ nào khác trong kinh điển.]

Tại đó, Đức Thế Tôn trú ở Manasākaṭa, trong rừng xoài bên bờ sông Aciravatī, phía bắc Manasākaṭa.

[Chú thích: Aciravatī ngày nay là sông Rapti, một trong những con sông lớn chảy từ dãy Himalaya qua xứ Kosala rồi đổ vào sông Hằng.]

Lúc bấy giờ, nhiều vị bà-la-môn đại phú, hết sức nổi tiếng, đang sống tại Manasākaṭa, đó là:

bà-la-môn Caṅkī, bà-la-môn Tārukkha, bà-la-môn Pokkharasāti, bà-la-môn Jāṇusoṇi, bà-la-môn Todeyya, cùng nhiều vị bà-la-môn đại phú, hết sức nổi tiếng khác.

Rồi khi hai thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja đang đi bộ cho giãn chân, đi tới đi lui, thì câu chuyện về con đường nào là con đường, con đường nào không phải con đường khởi lên.

[Chú thích: Những cuộc thảo luận tương tự có trong MN 98 (tức Snp 3.9) và DN 27. Cụm maggāmagga có thể hiểu là "con đường nào là con đường, con đường nào không phải con đường", cũng có thể hiểu là "nhiều con đường khác nhau"; ở đây họ muốn phân định đâu là con đường đúng.]

Rồi thanh niên Vāseṭṭha nói như vầy:

"Chỉ có con đường thẳng này, lối đi thẳng này, có khả năng dẫn dắt, đưa người thực hành theo nó đến cõi Phạm thiên; đó là con đường đã được bà-la-môn Pokkharasāti giảng dạy."

[Chú thích: Việc này hẳn xảy ra trước khi Pokkharasāti quy y, như ghi ở DN 3:2.22.1. Brahmasahabyatā không có nghĩa là "hợp nhất với Phạm thiên" mà là "tái sinh làm một thành viên trong đoàn tùy tùng của Phạm thiên". Cụm añjasa ("lối đi thẳng") được bàn ở SN 12:65:7.1.]

Thanh niên Bhāradvāja cũng nói như vầy:

"Chỉ có con đường thẳng này, lối đi thẳng này, có khả năng dẫn dắt, đưa người thực hành theo nó đến cõi Phạm thiên; đó là con đường đã được bà-la-môn Tārukkha giảng dạy."

[Chú thích: Trong kinh Pali, Tārukkha không bao giờ xuất hiện trực tiếp, chỉ được nhắc đến khi vắng mặt. Ông rõ ràng chủ trương rằng chính dòng dõi chứ không phải hạnh kiểm mới làm nên một bà-la-môn (MN 98:3.4).]

Thanh niên Vāseṭṭha không thể thuyết phục được thanh niên Bhāradvāja, và thanh niên Bhāradvāja cũng không thể thuyết phục được thanh niên Vāseṭṭha.

Rồi thanh niên Vāseṭṭha nói với thanh niên Bhāradvāja:

"Này Bhāradvāja, sa-môn Gotama, người dòng Sakya, xuất gia từ dòng họ Sakya, đang trú tại Manasākaṭa, trong rừng xoài bên bờ sông Aciravatī, phía bắc Manasākaṭa.

Về ngài Gotama ấy, tiếng tốt lành này đã được truyền tụng khắp nơi:

'bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện thệ, bậc thấu hiểu thế gian, bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự, bậc thầy của trời và người, bậc Giác ngộ, bậc Thế Tôn'.

Này Bhāradvāja, hãy cùng đến gặp sa-môn Gotama; đến rồi, hãy hỏi sa-môn Gotama về vấn đề này.

Sa-môn Gotama trả lời thế nào, hãy ghi nhớ đúng như vậy."

"Vâng, thưa ngài", thanh niên Bhāradvāja đáp lời thanh niên Vāseṭṭha.


1. Con đường nào là con đường, con đường nào không phải con đường

Rồi hai thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja đi đến Đức Thế Tôn; đến rồi, họ chào hỏi Ngài.

Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và đáng ghi nhớ, họ ngồi xuống một bên. Thanh niên Vāseṭṭha ngồi một bên, bèn thưa với Đức Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, khi chúng con đang đi bộ cho giãn chân, đi tới đi lui, thì câu chuyện về con đường nào là con đường, con đường nào không phải con đường khởi lên giữa chúng con.

Con nói như vầy:

'Chỉ có con đường thẳng này, lối đi thẳng này, có khả năng dẫn dắt, đưa người thực hành theo nó đến cõi Phạm thiên; đó là con đường đã được bà-la-môn Pokkharasāti giảng dạy'.

còn thanh niên Bhāradvāja thì nói như vầy:

'Chỉ có con đường thẳng này, lối đi thẳng này, có khả năng dẫn dắt, đưa người thực hành theo nó đến cõi Phạm thiên; đó là con đường đã được bà-la-môn Tārukkha giảng dạy'.

Bạch Thế Tôn, ở điểm này, chúng con có tranh luận, có bất đồng, có ý kiến khác nhau."

"Này Vāseṭṭha, ra là ông nói như vầy:

'Chỉ có con đường thẳng này, lối đi thẳng này, có khả năng dẫn dắt, đưa người thực hành theo nó đến cõi Phạm thiên; đó là con đường đã được bà-la-môn Pokkharasāti giảng dạy'.

còn thanh niên Bhāradvāja thì nói như vầy:

'Chỉ có con đường thẳng này, lối đi thẳng này, có khả năng dẫn dắt, đưa người thực hành theo nó đến cõi Phạm thiên; đó là con đường đã được bà-la-môn Tārukkha giảng dạy'.

Vậy này Vāseṭṭha, các ông tranh luận về điều gì, bất đồng về điều gì, có ý kiến khác nhau về điều gì?"

"Bạch Thế Tôn, về con đường nào là con đường, con đường nào không phải con đường.

Bạch Thế Tôn, dù các bà-la-môn có nêu ra nhiều con đường khác nhau — các bà-la-môn Addhariya, các bà-la-môn Tittiriya, các bà-la-môn Chandoka, các bà-la-môn Bavhārijjha — thì tất cả những con đường ấy đều có khả năng dẫn dắt, đưa người thực hành theo nó đến cõi Phạm thiên.

[Chú thích: Các trường phái này được Wijesekera và Jayatilleke nhận diện, và ở đây dùng dạng tiếng Phạn quen thuộc vì chính tả Pali có nhiều dị bản. Addhariya (Adhvaryu) ứng với Śatapatha Brāhmaṇa (Yajur Veda trắng), Taittirīya với Yajur Veda đen, Chāndogya với Sāman Veda, còn Bahvṛca với Rig Veda. Đây là lần duy nhất trong kinh điển Pali nhắc đến các trường phái ấy.]

Bạch Thế Tôn, ví như gần một làng hay một thị trấn có nhiều con đường khác nhau, thì tất cả những con đường ấy đều hội tụ về làng ấy;

[Chú thích: Lúc đầu họ tranh cãi xem con đường nào mới đúng, giờ lại chuyển sang lập trường rộng hơn: nhiều con đường cùng lên một ngọn núi. Khi nói với nhau, họ thấy quan điểm của nhau mâu thuẫn; khi nói với người ngoài, họ lại chọn thái độ hòa giải.]

cũng vậy, bạch Thế Tôn, dù các bà-la-môn có nêu ra nhiều con đường khác nhau — các bà-la-môn Addhariya, các bà-la-môn Tittiriya, các bà-la-môn Chandoka, các bà-la-môn Bavhārijjha — thì tất cả những con đường ấy đều có khả năng dẫn dắt, đưa người thực hành theo nó đến cõi Phạm thiên."


2. Tra vấn Vāseṭṭha

Này Vāseṭṭha, ông nói rằng "chúng dẫn dắt người ta đi" phải không?

Bạch Thế Tôn, con nói rằng "chúng dẫn dắt người ta đi".

Này Vāseṭṭha, ông nói rằng "chúng dẫn dắt người ta đi" phải không?

Bạch Thế Tôn, con nói rằng "chúng dẫn dắt người ta đi".

Này Vāseṭṭha, ông nói rằng "chúng dẫn dắt người ta đi" phải không?

Bạch Thế Tôn, con nói rằng "chúng dẫn dắt người ta đi".

Này Vāseṭṭha, trong số các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà, có dù chỉ một vị bà-la-môn nào đã thấy tận mắt Phạm thiên chưa?

Bạch Thế Tôn, không có.

Này Vāseṭṭha, có dù chỉ một vị thầy nào của các vị ấy đã thấy tận mắt Phạm thiên chưa?

Bạch Thế Tôn, không có.

Này Vāseṭṭha, có dù chỉ một vị thầy của thầy nào của các vị ấy đã thấy tận mắt Phạm thiên chưa?

Bạch Thế Tôn, không có.

Này Vāseṭṭha, có ai tính đến đời thầy thứ bảy đã thấy tận mắt Phạm thiên chưa?

Bạch Thế Tôn, không có.

Này Vāseṭṭha, còn những vị ẩn sĩ thời xưa của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà, những vị đã làm ra các bài tụng và đã truyền bá các bài tụng ấy. Những lời tụng cổ xưa của các vị ấy đã được hát lên, truyền đi và ghi nhớ; ngày nay các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà vẫn hát theo, nói theo, nói lại điều đã được nói, dạy lại điều đã được dạy. Đó là Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa và Bhagu.

[Chú thích: Mười cái tên trong bản Pali gồm bảy tác giả của các "gia tập" trong Rig Veda, tức các Maṇḍala 2 đến 8. Các vị này là tổ của những dòng thi nhân, nên tác phẩm của con cháu họ thường không chỉ nằm trong một gia tập; thơ của ba vị còn lại phần lớn nằm ngoài các gia tập. Như vậy danh sách ẩn sĩ ở đây bao trùm phần lớn Rig Veda, dù truyền thống Vệ-đà còn ghi nhiều tác giả khác.]

Những vị ấy có nói rằng:

"Chúng tôi biết điều này, chúng tôi thấy điều này: Phạm thiên ở đâu, theo lối nào đến được Phạm thiên, Phạm thiên ở chỗ nào" hay không?

[Chú thích: Cách nói này khác với lời của vị tỳ-kheo trong DN 11:80.1.]

Bạch Thế Tôn, không có.

Này Vāseṭṭha, vậy thì ra không có một vị bà-la-môn nào trong số các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà đã thấy tận mắt Phạm thiên.

Không có một vị thầy nào của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà đã thấy tận mắt Phạm thiên.

Không có một vị thầy của thầy nào của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà đã thấy tận mắt Phạm thiên.

Không có ai tính đến đời thầy thứ bảy của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà đã thấy tận mắt Phạm thiên.

Và cả những vị ẩn sĩ thời xưa của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà, những vị đã làm ra các bài tụng và đã truyền bá các bài tụng ấy; những lời tụng cổ xưa của các vị ấy đã được hát lên, truyền đi và ghi nhớ, mà ngày nay các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà vẫn hát theo, nói theo, nói lại điều đã được nói, dạy lại điều đã được dạy. Đó là Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa và Bhagu. Những vị ấy cũng đã không nói rằng:

"Chúng tôi biết điều này, chúng tôi thấy điều này: Phạm thiên ở đâu, theo lối nào đến được Phạm thiên, Phạm thiên ở chỗ nào."

Thế mà chính các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà ấy lại nói rằng:

"Chúng tôi dạy con đường đến chỗ đồng hành với một vị mà chúng tôi không biết, không thấy.

Chỉ có con đường này là con đường thẳng, là lối đi ngay, là con đường dẫn dắt; nó đưa người thực hành đến cõi Phạm thiên."

Này Vāseṭṭha, ông nghĩ sao,

nếu vậy thì lời nói của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà há chẳng phải là lời không có cơ sở hay sao?

[Chú thích: "Không có cơ sở" ứng với chữ appāṭihīrakataṁ trong bản Pali.]

Bạch Thế Tôn, đúng là như vậy. Nếu vậy thì lời nói của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà quả là không có cơ sở.

Lành thay, này Vāseṭṭha! Các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà ấy không biết, không thấy, mà lại dạy con đường đến chỗ đồng hành với vị ấy, và nói: "Chỉ có con đường này là con đường thẳng, là lối đi ngay, là con đường dẫn dắt; nó đưa người thực hành đến cõi Phạm thiên" — chuyện ấy không thể xảy ra.

Này Vāseṭṭha, ví như một dãy người mù dắt nhau đi: người đi đầu không thấy, người ở giữa không thấy, người đi cuối không thấy.

[Chú thích: Hình ảnh "người mù dắt người mù" cũng xuất hiện ở MN 95 và MN 99. Các bản Upaniṣad lại dùng hình ảnh này theo chiều ngược lại, cho rằng những kẻ mù dạy giáo lý sai lạc nhằm phá hoại Vệ-đà, tức là "thuyết vô ngã", một ám chỉ rõ ràng đến giới Phật tử. Hình ảnh ấy cũng có trong Kaṭha Upaniṣad, Muṇḍaka Upaniṣad, Mahābhārata và kinh Sūyagaḍa của Kỳ-na giáo.]

Cũng vậy, này Vāseṭṭha, ta thấy lời nói của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà giống như ví dụ về dãy người mù: người đi đầu không thấy, người ở giữa không thấy, người đi cuối không thấy.

Lời nói của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà ấy hóa ra chỉ là chuyện đáng cười, chỉ là lời nói suông, chỉ là chuyện rỗng tuếch, chỉ là chuyện trống không.

Này Vāseṭṭha, ông nghĩ sao,

các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà có thấy mặt trăng, mặt trời như nhiều người khác không? Họ có cầu xin, tán thán, chắp tay đảnh lễ và xoay theo mặt trăng, mặt trời từ chỗ chúng mọc lên đến chỗ chúng lặn xuống không?

[Chú thích: Sarvajit Kauṣītaki thờ mặt trời, mặt trăng lúc mọc và lúc lặn, xoay mình theo đường đi của chúng (Kauṣītaki Upaniṣad 2.7–9). Ông lập ra dòng Kauṣītaki, tức dòng "đi theo đường mặt trăng" (cāndrāyaṇa) được nhắc ở trên.]

Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà có thấy mặt trăng, mặt trời, và nhiều người khác cũng thấy. Họ cầu xin, tán thán, chắp tay đảnh lễ và xoay theo mặt trăng, mặt trời từ chỗ chúng mọc lên đến chỗ chúng lặn xuống.

Này Vāseṭṭha, ông nghĩ sao,

dù các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà có thấy mặt trăng, mặt trời như nhiều người khác, có cầu xin, tán thán, chắp tay đảnh lễ và xoay theo mặt trăng, mặt trời từ chỗ chúng mọc lên đến chỗ chúng lặn xuống, thì các vị ấy có thể dạy con đường đến chỗ đồng hành với mặt trăng, mặt trời không, để nói rằng:

"Chỉ có con đường này là con đường thẳng, là lối đi ngay, là con đường dẫn dắt; nó đưa người thực hành đến chỗ đồng hành với mặt trăng, mặt trời" không?

[Chú thích: Thần Indra đã dạy Bhāradvāja một nền học ba phần mới, nhờ đó ông có thể thành bất tử và đạt được sự đồng hành với mặt trời (Taittirīya Brāhmaṇa 3.10.11.15).]

Bạch Thế Tôn, không có.

Này Vāseṭṭha, vậy thì ra các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà có thấy mặt trăng, mặt trời như nhiều người khác, có cầu xin, tán thán, chắp tay đảnh lễ và xoay theo mặt trăng, mặt trời từ chỗ chúng mọc lên đến chỗ chúng lặn xuống, mà cũng không thể dạy con đường đến chỗ đồng hành với chính mặt trăng, mặt trời:

"Chỉ có con đường này là con đường thẳng, là lối đi ngay, là con đường dẫn dắt; nó đưa người thực hành đến chỗ đồng hành với mặt trăng, mặt trời."

Nhưng hình như chính các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà cũng chưa thấy tận mắt Phạm thiên.

Và hình như các vị thầy của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà cũng chưa thấy tận mắt Phạm thiên.

Và hình như các vị thầy của thầy của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà cũng chưa thấy tận mắt Phạm thiên.

Và hình như không ai tính đến đời thầy thứ bảy của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà đã thấy tận mắt Phạm thiên.

Và cả những vị ẩn sĩ thời xưa của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà, những vị đã làm ra các bài tụng và đã truyền bá các bài tụng ấy; những lời tụng cổ xưa của các vị ấy đã được hát lên, truyền đi và ghi nhớ, mà ngày nay các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà vẫn hát theo, nói theo, nói lại điều đã được nói, dạy lại điều đã được dạy. Đó là Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa và Bhagu. Những vị ấy cũng đã không nói rằng:

"Chúng tôi biết điều này, chúng tôi thấy điều này: Phạm thiên ở đâu, theo lối nào đến được Phạm thiên, Phạm thiên ở chỗ nào."

Thế mà chính các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà ấy lại nói rằng:

"Chúng tôi dạy con đường đến chỗ đồng hành với một vị mà chúng tôi không biết, không thấy — chỉ có con đường này là con đường thẳng, là lối đi ngay, là con đường dẫn dắt; nó đưa người thực hành đến cõi Phạm thiên."

Này Vāseṭṭha, ông nghĩ sao,

nếu vậy thì lời nói của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà há chẳng phải là lời không có cơ sở hay sao?

Bạch Thế Tôn, đúng là như vậy. Nếu vậy thì lời nói của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà quả là không có cơ sở.

Lành thay, này Vāseṭṭha! Các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà ấy không biết, không thấy, mà lại dạy con đường đến chỗ đồng hành với vị ấy, và nói: "Chỉ có con đường này là con đường thẳng, là lối đi ngay, là con đường dẫn dắt; nó đưa người thực hành đến cõi Phạm thiên" — chuyện ấy không thể xảy ra.


2.1. Ví dụ người đàn bà đẹp nhất xứ

Này Vāseṭṭha, ví như có một người đàn ông nói như vầy:

"Người đàn bà nào đẹp nhất xứ này, tôi muốn người ấy, tôi khao khát người ấy."

Người ta sẽ nói với ông ta:

"Này anh kia, người đàn bà đẹp nhất xứ mà anh muốn, anh khao khát ấy — anh có biết người ấy

là dòng vua chúa, dòng bà-la-môn, dòng thương nhân hay dòng nô lệ không?"

Được hỏi vậy, ông ta sẽ nói: "Không."

Người ta sẽ nói với ông ta:

"Này anh kia, người đàn bà đẹp nhất xứ mà anh muốn, anh khao khát ấy — anh có biết tên và dòng họ của người ấy không? Người ấy cao hay thấp hay vừa tầm, da đen hay nâu hay xám xịt, ở làng nào, thị trấn nào, thành phố nào?"

Được hỏi vậy, ông ta sẽ nói: "Không."

Người ta sẽ nói với ông ta:

"Này anh kia, người mà anh không biết, không thấy — anh lại muốn người ấy, khao khát người ấy sao?"

Được hỏi vậy, ông ta sẽ nói: "Đúng vậy."

Này Vāseṭṭha, ông nghĩ sao,

nếu vậy thì lời nói của người đàn ông ấy há chẳng phải là lời không có cơ sở hay sao?

Bạch Thế Tôn, đúng là như vậy. Nếu vậy thì lời nói của người đàn ông ấy quả là không có cơ sở.

Cũng vậy, này Vāseṭṭha, hình như chính các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà cũng chưa thấy tận mắt Phạm thiên; hình như các vị thầy của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà cũng chưa thấy tận mắt Phạm thiên; hình như các vị thầy của thầy của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà cũng chưa thấy tận mắt Phạm thiên.

Và hình như cũng chưa có ai tính đến đời thầy thứ bảy của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà thấy tận mắt Phạm thiên.

Và cả những vị ẩn sĩ thời xưa của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà, những vị đã làm ra các bài tụng và đã truyền bá các bài tụng ấy; những lời tụng cổ xưa của các vị ấy đã được hát lên, truyền đi và ghi nhớ, mà ngày nay các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà vẫn hát theo, nói theo, nói lại điều đã được nói, dạy lại điều đã được dạy. Đó là Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa và Bhagu. Những vị ấy cũng đã không nói rằng:

"Chúng tôi biết điều này, chúng tôi thấy điều này: Phạm thiên ở đâu, theo lối nào đến được Phạm thiên, Phạm thiên ở chỗ nào."

Thế mà chính các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà ấy lại nói rằng:

"Chúng tôi dạy con đường đến chỗ đồng hành với một vị mà chúng tôi không biết, không thấy — chỉ có con đường này là con đường thẳng, là lối đi ngay, là con đường dẫn dắt; nó đưa người thực hành đến cõi Phạm thiên."

Này Vāseṭṭha, ông nghĩ sao, nếu vậy thì lời nói của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà há chẳng phải là lời không có cơ sở hay sao?

Bạch Thế Tôn, đúng là như vậy. Nếu vậy thì lời nói của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà quả là không có cơ sở.

Lành thay, này Vāseṭṭha! Các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà ấy không biết, không thấy, mà lại dạy con đường đến chỗ đồng hành với vị ấy, và nói: "Chỉ có con đường này là con đường thẳng, là lối đi ngay, là con đường dẫn dắt; nó đưa người thực hành đến cõi Phạm thiên" — chuyện ấy không thể xảy ra.


2.2. Ví dụ cái thang

Này Vāseṭṭha, ví như có một người đàn ông dựng một cái thang ở ngã tư đường để trèo lên một ngôi nhà lầu.

Người ta sẽ nói với ông ta:

"Này anh kia, ngôi nhà lầu mà anh dựng thang để trèo lên ấy — anh có biết ngôi nhà ấy ở phía đông, phía nam, phía tây hay phía bắc không? Nó cao hay thấp hay vừa tầm?"

Được hỏi vậy, ông ta sẽ nói: "Không."

Người ta sẽ nói với ông ta:

"Này anh kia, ngôi nhà lầu mà anh không biết, không thấy — anh lại dựng thang để trèo lên sao?"

Được hỏi vậy, ông ta sẽ nói: "Đúng vậy."

Này Vāseṭṭha, ông nghĩ sao,

nếu vậy thì lời nói của người đàn ông ấy há chẳng phải là lời không có cơ sở hay sao?

Bạch Thế Tôn, đúng là như vậy. Nếu vậy thì lời nói của người đàn ông ấy quả là không có cơ sở.

Cũng vậy, này Vāseṭṭha, hình như chính các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà cũng chưa thấy tận mắt Phạm thiên; hình như các vị thầy của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà cũng chưa thấy tận mắt Phạm thiên; hình như các vị thầy của thầy của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà cũng chưa thấy tận mắt Phạm thiên; và hình như chưa có ai tính đến đời thầy thứ bảy của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà thấy tận mắt Phạm thiên.

Và cả những vị ẩn sĩ thời xưa của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà, những vị đã làm ra các bài tụng và đã truyền bá các bài tụng ấy; những lời tụng cổ xưa của các vị ấy đã được hát lên, truyền đi và ghi nhớ, mà ngày nay các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà vẫn hát theo, nói theo, nói lại điều đã được nói, dạy lại điều đã được dạy. Đó là Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa và Bhagu. Những vị ấy cũng đã không nói rằng —

"Chúng tôi biết điều này, chúng tôi thấy điều này: Phạm thiên ở đâu, theo lối nào đến được Phạm thiên, Phạm thiên ở chỗ nào."

Thế mà chính các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà ấy lại nói rằng:

"Chúng tôi dạy con đường đến chỗ đồng hành với một vị mà chúng tôi không biết, không thấy; chỉ có con đường này là con đường thẳng, là lối đi ngay, là con đường dẫn dắt, nó đưa người thực hành đến cõi Phạm thiên."

Này Vāseṭṭha, ông nghĩ sao, nếu vậy thì lời nói của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà há chẳng phải là lời không có cơ sở hay sao?

Bạch Thế Tôn, đúng là như vậy. Nếu vậy thì lời nói của các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà quả là không có cơ sở.

Lành thay, này Vāseṭṭha! Các vị bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà ấy không biết, không thấy, mà lại dạy con đường đến chỗ đồng hành với vị ấy: "Chỉ có con đường này là con đường thẳng, là lối đi ngay, là con đường dẫn dắt; nó đưa người thực hành đến cõi Phạm thiên" — chuyện ấy không thể xảy ra.


2.3. Ví dụ dòng sông Aciravatī

"Này Vāseṭṭha, ví như dòng sông Aciravatī này đầy ắp nước, nước tràn đến tận bờ, đến mức con quạ có thể cúi xuống uống.

Rồi có một người đi đến, muốn sang bờ bên kia, tìm kiếm bờ bên kia, hướng về bờ bên kia, mong vượt qua bờ bên kia.

Người ấy đứng ở bờ bên này, gọi sang bờ bên kia:

'Hãy đến đây, bờ bên kia ơi! Hãy đến đây, bờ bên kia ơi!'

Này Vāseṭṭha, ông nghĩ sao,

liệu bờ bên kia của dòng sông Aciravatī có thể vì người ấy gọi mời, cầu khẩn, mong mỏi hay ưa thích mà sang đến bờ bên này được không?"

"Không đâu, bạch Thế Tôn."

"Cũng vậy, này Vāseṭṭha, các bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà đang từ bỏ những điều làm nên một bà-la-môn, lại đang nắm lấy những điều làm cho không phải là bà-la-môn mà sống theo, mà họ lại nói như vầy:

[Chú thích: Danh sách tám vị thần dưới đây có thể đối chiếu với chín vị thần trong Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 1.4.11: sáu vị trùng với bản Pali, và Brahmā đứng đầu, từ đó sinh ra Indra, Varuṇa, Soma, Yama và Īsāna. Những tên không trùng có thể do truyền bản sai lệch — Parjanya ở đó có lẽ là Pajāpati ở đây, còn Rudra (tức Shiva) thì rất hợp với Mahiddhi, "bậc có quyền năng lớn". Nếu đúng thế thì Đức Thế Tôn đang khéo léo châm biếm: những người tự nhận là bà-la-môn chân chính lại đang quỳ lạy những vị thần vốn thuộc giai cấp vua chúa, trừ Brahmā, chứ không phải bà-la-môn.]

'Chúng tôi gọi Indra! Chúng tôi gọi Soma! Chúng tôi gọi Varuṇa! Chúng tôi gọi Īsāna! Chúng tôi gọi Pajāpati! Chúng tôi gọi Phạm thiên! Chúng tôi gọi Mahiddhi! Chúng tôi gọi Yama!'

[Chú thích: Soma là thứ nước tế lễ gây phấn khích, được đồng nhất với mặt trăng; Varuṇa là thần của mệnh lệnh, vị vua cai trị nghiêm khắc; Īsāna do Pajāpati tạo ra làm "vị chủ tọa", được cho là mặt trời, và cũng được đồng nhất với Rudra và Shiva. Pajāpati ("đấng sinh thành") là vị thần cô đơn của sự sáng tạo, hơi nóng do nỗ lực của ông tạo ra thế giới và vạn vật; Brahmā cũng là thần sáng tạo, nhưng là quyền năng thần linh hiện diện trong thế giới đã được tạo ra, chứ không phải kẻ khởi xướng đã bị lãng quên. Mahiddhi ("bậc có quyền năng lớn") không phải tên thường của một vị thần, có lẽ là Rudra hay Shiva; còn Yama ("cặp song sinh") sinh ra bất tử nhưng chọn sự chết, trở thành thần của người chết.]

Này Vāseṭṭha, chuyện các bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà ấy — những người đang từ bỏ những điều làm nên một bà-la-môn, lại đang nắm lấy những điều làm cho không phải là bà-la-môn mà sống theo — sẽ nhờ gọi mời, cầu khẩn, mong mỏi hay ưa thích mà khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh cùng sống chung với Phạm thiên: điều ấy không thể xảy ra."

"Này Vāseṭṭha, ví như dòng sông Aciravatī này đầy ắp nước, nước tràn đến tận bờ, đến mức con quạ có thể cúi xuống uống.

Rồi có một người đi đến, muốn sang bờ bên kia, tìm kiếm bờ bên kia, hướng về bờ bên kia, mong vượt qua bờ bên kia.

Nhưng người ấy lại bị trói chặt hai cánh tay ra sau lưng bằng một sợi xích chắc chắn, ngay tại bờ bên này.

Này Vāseṭṭha, ông nghĩ sao,

liệu người ấy có thể từ bờ bên này của dòng sông Aciravatī mà sang được bờ bên kia không?"

"Không đâu, bạch Thế Tôn."

"Cũng vậy, này Vāseṭṭha, năm loại dục lạc này, trong giới luật của bậc thánh, được gọi là xích, cũng được gọi là dây trói.

Năm loại ấy là gì?

Những sắc do mắt nhận biết, đáng yêu, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục, làm khởi lên tham muốn.

Những âm thanh do tai nhận biết, đáng yêu, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục, làm khởi lên tham muốn.

Những mùi do mũi nhận biết, đáng yêu, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục, làm khởi lên tham muốn.

Những vị do lưỡi nhận biết, đáng yêu, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục, làm khởi lên tham muốn.

Những xúc do thân nhận biết, đáng yêu, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục, làm khởi lên tham muốn.

Này Vāseṭṭha, đây là năm loại dục lạc mà trong giới luật của bậc thánh được gọi là xích, cũng được gọi là dây trói.

Này Vāseṭṭha, các bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà thọ hưởng năm loại dục lạc này trong khi bị dính mắc, bị mê đắm, bị chìm đắm, không thấy sự nguy hại, không có trí hiểu được lối thoát.

Này Vāseṭṭha, chuyện các bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà ấy — những người đang từ bỏ những điều làm nên một bà-la-môn, lại đang nắm lấy những điều làm cho không phải là bà-la-môn mà sống theo, đang thọ hưởng năm loại dục lạc trong khi bị dính mắc, bị mê đắm, bị chìm đắm, không thấy sự nguy hại, không có trí hiểu được lối thoát, bị trói bằng xích của dục — sẽ khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh cùng sống chung với Phạm thiên: điều ấy không thể xảy ra."

"Này Vāseṭṭha, ví như dòng sông Aciravatī này đầy ắp nước, nước tràn đến tận bờ, đến mức con quạ có thể cúi xuống uống.

Rồi có một người đi đến, muốn sang bờ bên kia, tìm kiếm bờ bên kia, hướng về bờ bên kia, mong vượt qua bờ bên kia.

Nhưng người ấy lại nằm xuống ngay bờ bên này, trùm kín từ đầu đến chân.

Này Vāseṭṭha, ông nghĩ sao,

liệu người ấy có thể từ bờ bên này của dòng sông Aciravatī mà sang được bờ bên kia không?"

"Không đâu, bạch Thế Tôn."

"Cũng vậy, này Vāseṭṭha, năm triền cái này, trong giới luật của bậc thánh, được gọi là chướng ngại, được gọi là triền cái, được gọi là vật bọc kín, được gọi là vật phủ kín.

Năm ấy là gì?

Triền cái tham dục, triền cái sân hận, triền cái hôn trầm và thụy miên, triền cái trạo cử và hối quá, triền cái hoài nghi.

Này Vāseṭṭha, đây là năm triền cái mà trong giới luật của bậc thánh được gọi là chướng ngại, được gọi là triền cái, được gọi là vật bọc kín, được gọi là vật phủ kín.

Này Vāseṭṭha, các bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà bị năm triền cái này che kín, chặn kín, bọc kín, phủ kín.

Này Vāseṭṭha, chuyện các bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà ấy — những người đang từ bỏ những điều làm nên một bà-la-môn, lại đang nắm lấy những điều làm cho không phải là bà-la-môn mà sống theo, bị năm triền cái này che kín, chặn kín, bọc kín, phủ kín — sẽ khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh cùng sống chung với Phạm thiên: điều ấy không thể xảy ra."


3. Hội tụ

"Này Vāseṭṭha, ông nghĩ sao,

ông đã nghe các bà-la-môn già cả, cao niên, những vị thầy của các thầy nói thế nào: Phạm thiên có của cải hay không có của cải?"

"Không có của cải, bạch Thế Tôn."

"Tâm của Phạm thiên có oán thù hay không oán thù?"

"Không oán thù, bạch Thế Tôn."

"Tâm của Phạm thiên có sân hại hay không sân hại?"

"Không sân hại, bạch Thế Tôn."

"Tâm của Phạm thiên có ô nhiễm hay không ô nhiễm?"

"Không ô nhiễm, bạch Thế Tôn."

"Phạm thiên có quyền năng hay không có quyền năng?"

"Có quyền năng, bạch Thế Tôn."

"Này Vāseṭṭha, ông nghĩ sao,

các bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà có của cải hay không có của cải?"

"Có của cải, bạch Thế Tôn."

"Tâm của họ có oán thù hay không oán thù?"

"Có oán thù, bạch Thế Tôn."

"Tâm của họ có sân hại hay không sân hại?"

"Có sân hại, bạch Thế Tôn."

"Tâm của họ có ô nhiễm hay không ô nhiễm?"

"Có ô nhiễm, bạch Thế Tôn."

"Họ có quyền năng hay không có quyền năng?"

"Không có quyền năng, bạch Thế Tôn."

"Thì ra, này Vāseṭṭha, các bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà có của cải, còn Phạm thiên thì không có của cải.

Vậy những bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà có của cải ấy có thể hội tụ và gặp gỡ với Phạm thiên, đấng không có của cải, được không?"

"Không đâu, bạch Thế Tôn."

"Lành thay, này Vāseṭṭha! Chuyện các bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà có của cải ấy sẽ khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh cùng sống chung với Phạm thiên, đấng không có của cải: điều ấy không thể xảy ra.

Thì ra, này Vāseṭṭha, các bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà có tâm oán thù, còn Phạm thiên thì không oán thù;

các bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà có tâm sân hại, còn Phạm thiên thì không sân hại;

các bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà có tâm ô nhiễm, còn Phạm thiên thì không ô nhiễm;

các bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà không có quyền năng, còn Phạm thiên thì có quyền năng. Vậy những bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà không có quyền năng ấy có thể hội tụ và gặp gỡ với Phạm thiên, đấng có quyền năng, được không?"

"Không đâu, bạch Thế Tôn."

"Lành thay, này Vāseṭṭha! Chuyện các bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà không có quyền năng ấy sẽ khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, được tái sinh cùng sống chung với Phạm thiên, đấng có quyền năng: điều ấy không thể xảy ra.

Nhưng ở đây, này Vāseṭṭha, các bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đà ấy lao xuống rồi chìm nghỉm; chìm nghỉm rồi thì ngộp nước, mà lại tưởng mình đang vượt sang bờ khô hơn.

[Chú thích: Đoạn này dựa vào hình ảnh vượt sông đã dựng lên trong bài, tuy không nhắc đến con sông. Ba động từ diễn tả mức chìm sâu dần: lao xuống, chìm nghỉm, rồi ngộp nước.]

Vì thế mà ba bộ Vệ-đà của các bà-la-môn ấy được gọi là đất mặn, được gọi là đất hoang, được gọi là tai họa."

Khi Ngài nói như vậy, thanh niên Vāseṭṭha thưa với Đức Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, con nghe nói sa-môn Gotama biết con đường để cùng sống chung với Phạm thiên."

"Này Vāseṭṭha, ông nghĩ sao?

Làng Manasākaṭa ở gần đây, không xa đây, phải không?"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn, làng Manasākaṭa ở gần đây, không xa đây."

"Này Vāseṭṭha, ông nghĩ sao?

Giả sử có một người sinh ra và lớn lên ở Manasākaṭa.

Người ấy vừa rời khỏi Manasākaṭa thì người ta hỏi người ấy đường về Manasākaṭa.

Này Vāseṭṭha, người sinh ra và lớn lên ở Manasākaṭa ấy, khi được hỏi đường về Manasākaṭa, có thể nào lại chậm chạp hay ngập ngừng không?"

"Không đâu, bạch Thế Tôn."

"Vì sao vậy?"

"Vì người ấy, bạch Thế Tôn, sinh ra và lớn lên ở Manasākaṭa, nên mọi con đường về Manasākaṭa đều đã quen thuộc với người ấy."

"Này Vāseṭṭha, người sinh ra và lớn lên ở Manasākaṭa ấy, khi được hỏi đường về Manasākaṭa, thì có thể chậm chạp hay ngập ngừng; nhưng Như Lai, khi được hỏi về cõi Phạm thiên hay về con đường dẫn đến cõi Phạm thiên, thì không hề chậm chạp hay ngập ngừng.

Này Vāseṭṭha, ta hiểu Phạm thiên, hiểu cõi Phạm thiên và con đường dẫn đến cõi Phạm thiên; và ta cũng hiểu rõ: ai thực hành theo con đường ấy thì được sinh lên cõi Phạm thiên."

Khi Ngài nói như vậy, thanh niên Vāseṭṭha thưa với Đức Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, con nghe nói sa-môn Gotama dạy con đường để cùng sống chung với Phạm thiên."

[Chú thích: Dấu kết câu -ti ở đây khiến một số nhà biên tập hiểu lầm; thực ra Vāseṭṭha đang thuật lại điều mình đã nghe.]

"Lành thay, xin ngài Gotama dạy cho chúng con con đường để cùng sống chung với Phạm thiên, xin ngài Gotama nâng đỡ dòng dõi bà-la-môn này."

"Vậy thì, này Vāseṭṭha, hãy nghe cho kỹ và khéo tác ý; ta sẽ nói."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn", thanh niên Vāseṭṭha đáp lời Đức Thế Tôn.


4. Dạy con đường đến cõi Phạm thiên

Đức Thế Tôn nói như vầy:

"Này Vāseṭṭha, ở đây Như Lai xuất hiện ở đời — bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện thệ, bậc thấu hiểu thế gian, bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự, bậc thầy của trời và người, bậc Giác ngộ, bậc Thế Tôn. Ngài tự mình chứng ngộ bằng thắng trí thế giới này — có chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, có dân chúng cùng hàng sa-môn và bà-la-môn, có chư thiên và loài người — rồi công bố điều ấy cho người khác. Ngài thuyết Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và lời lẽ khéo léo; Ngài công bố đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh. Rồi một người gia chủ, hay con của một người gia chủ, hay một người sinh ra trong một gia đình nào đó, nghe Pháp ấy. Người ấy nghe xong, khởi lên lòng tin nơi Như Lai, bèn nghĩ: 'Đời sống tại gia thì chật chội, bụi bặm; đời sống xuất gia thì rộng mở, thoáng đãng. Sống trong nhà thật khó mà sống được đời phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn trong sạch. Chi bằng ta cạo bỏ râu tóc, mặc y màu vàng nghệ, rời bỏ đời sống tại gia mà xuất gia sống đời không nhà.' Rồi người ấy từ bỏ gia đình, xuất gia sống đời không nhà. Sau khi xuất gia, vị ấy sống tự chế ngự theo giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và chỗ đi lại thích hợp, thấy sự nguy hiểm ngay trong những lỗi nhỏ như hạt bụi, thọ nhận và học tập các học giới; thành tựu việc làm thiện nơi thân và lời nói; mưu sinh trong sạch; từ bỏ sát sinh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ lời nói độc ác, từ bỏ lời nói phù phiếm; không nhận vàng bạc, không nhận ruộng đất, không buôn bán, không lừa đảo trong cân đo, không kiếm sống bằng những môn thuật hèn hạ. Nhờ vậy, vị ấy giữ gìn thân, lời nói và mạng sống trong sạch, và cảm nhận được niềm vui không lỗi lầm ngay trong lòng mình.

Này Vāseṭṭha, một tỳ-kheo thành tựu giới là như vậy. Khi đã thành tựu giới ấy, vị ấy hộ trì các cửa giác quan: khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm lấy tướng chung, không nắm lấy chi tiết; vì nếu để nhãn căn không được hộ trì thì tham muốn và bực bội sẽ tràn vào, nên vị ấy thực hành sự hộ trì ấy; tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng vậy. Nhờ hộ trì các cửa giác quan, vị ấy cảm nhận một niềm an lạc trong sạch, không vẩn đục. Vị ấy có chánh niệm và tỉnh giác trong mọi việc: khi đi tới đi lui, khi nhìn thẳng nhìn nghiêng, khi co tay duỗi tay, khi mang y và bát, khi ăn uống nhai nếm, khi đại tiện tiểu tiện, khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng. Vị ấy biết đủ với y phục để che thân và thức ăn khất thực để nuôi bụng; đi đến đâu, vị ấy chỉ mang theo đúng những thứ ấy, như con chim bay đi đâu thì đôi cánh là hành lý duy nhất. Sau bữa ăn, khi đi khất thực trở về, vị ấy tìm đến chỗ vắng vẻ — rừng, gốc cây, núi, khe núi, hang núi, nghĩa địa, rừng rậm, chỗ trống ngoài trời, đống rơm — ngồi xuống, xếp bằng, giữ thân thẳng, đặt chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ năm triền cái — tham muốn đối với thế gian, sân hận và ác ý, hôn trầm và thụy miên, trạo cử và hối quá, hoài nghi — và sống với tâm không còn bị chúng che lấp.

[Chú thích: Hai đoạn trên trong bản Pali đều là peyyāla, ghi tắt trọn khối văn về con đường tu tập tuần tự, trùng với Kinh Sa-môn Quả: Như Lai xuất hiện ở đời, thuyết Pháp, người nghe xuất gia, ba tầng giới, hộ trì các cửa giác quan, chánh niệm tỉnh giác, biết đủ, lui về chỗ vắng vẻ, từ bỏ năm triền cái. Bản dịch tóm lược các chặng ấy nhưng giữ đủ mọi mốc; ai muốn đọc nguyên văn đầy đủ xin xem Kinh Sa-môn Quả (DN 2, bài 2 của cùng dự án), mục 4.3.]

Khi vị ấy thấy trong mình đã từ bỏ năm triền cái này, niềm hân hoan khởi lên; khi đã hân hoan, hỷ khởi lên; khi tâm đầy hỷ, thân được lắng dịu; khi thân đã lắng dịu, vị ấy cảm thấy an lạc; khi đã an lạc, tâm được định."

"Vị ấy an trú, rải tâm từ ra khắp một phương; cũng vậy với phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Như vậy, trên dưới, ngang dọc, khắp mọi nơi, trùm khắp tất cả, vị ấy an trú, rải tâm từ rộng lớn, bao la, không giới hạn, không oán thù, không sân hại ra khắp toàn thế giới.

[Chú thích: Ở đây bốn tâm vô lượng (từ, bi, hỷ, xả) đứng vào vị trí của bốn tầng thiền-na; chúng chỉ là một trong những cách chứng đạt thiền-na, và được chọn ở đây cho khớp với mục tiêu là dạy con đường đến cõi Phạm thiên. Kinh điển coi chúng là có từ trước thời Đức Thế Tôn, nhưng chưa thấy ghi thành một nhóm trong văn bản thời kỳ ấy, mà có trong cả Yogasūtra 1.33 và Tattvārthasūtra 7.11 của Kỳ-na giáo. "Từ" (mettā) là lòng quan tâm tốt lành phổ quát, không kèm ham muốn hay dính mắc cá nhân.]

Này Vāseṭṭha, ví như một người thổi tù và khỏe mạnh, chỉ với chút ít công sức cũng làm cho tiếng vang khắp bốn phương;

cũng vậy, này Vāseṭṭha, khi tâm giải thoát bằng từ được tu tập như vậy, thì những nghiệp hữu hạn đã làm sẽ không còn lại, không còn đọng lại nơi ấy.

[Chú thích: Tâm trong thiền-na mạnh đến mức lấn át mọi nghiệp hữu hạn, kể cả việc thiện hay việc ác thường tình. Trừ khi đã phạm những trọng tội có quả nghiệp cố định như giết mẹ, giết cha, người tu thiền như vậy sẽ được tái sinh vào cõi Phạm thiên.]

Này Vāseṭṭha, đây cũng là con đường để cùng sống chung với Phạm thiên."

"Lại nữa, này Vāseṭṭha, vị tỳ-kheo an trú, rải tâm bi ra khắp một phương; cũng vậy với phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Như vậy, trên dưới, ngang dọc, khắp mọi nơi, trùm khắp tất cả, vị ấy an trú, rải tâm bi rộng lớn, bao la, không giới hạn, không oán thù, không sân hại ra khắp toàn thế giới.

[Chú thích: "Bi" (karuṇā) là phẩm chất đồng cảm với nỗi khổ của người khác hay của chính mình, cùng với ước muốn làm nỗi khổ ấy lắng dịu.]

Vị ấy an trú, rải tâm hỷ ra khắp một phương; cũng vậy với phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Như vậy, trên dưới, ngang dọc, khắp mọi nơi, trùm khắp tất cả, vị ấy an trú, rải tâm hỷ rộng lớn, bao la, không giới hạn, không oán thù, không sân hại ra khắp toàn thế giới.

[Chú thích: "Hỷ" (muditā) là niềm vui mừng trước thành công của người khác hay của chính mình, không có ganh tị hay dè bỉu.]

Vị ấy an trú, rải tâm xả ra khắp một phương; cũng vậy với phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Như vậy, trên dưới, ngang dọc, khắp mọi nơi, trùm khắp tất cả, vị ấy an trú, rải tâm xả rộng lớn, bao la, không giới hạn, không oán thù, không sân hại ra khắp toàn thế giới.

[Chú thích: "Xả" (upekkhā) nghĩa đen là "nhìn gần", không can thiệp mà vẫn sẵn sàng khi cần. Đó không phải sự thờ ơ, nên nó chỉ xuất hiện sau cùng, khi các tình cảm tích cực đã được tu tập.]

Này Vāseṭṭha, ví như một người thổi tù và khỏe mạnh, chỉ với chút ít công sức cũng làm cho tiếng vang khắp bốn phương;

cũng vậy, này Vāseṭṭha, khi tâm giải thoát bằng xả được tu tập như vậy, thì những nghiệp hữu hạn đã làm sẽ không còn lại, không còn đọng lại nơi ấy.

Này Vāseṭṭha, đây cũng là con đường để cùng sống chung với Phạm thiên."

[Chú thích: Một học trò bà-la-môn suốt đời thực hành không làm hại mọi loài — trừ những nơi thánh — thì đạt đến cõi Phạm thiên (Chāndogya Upaniṣad 8.15.1). Việc trừ ra những nơi thánh, dĩ nhiên, là để dành chỗ cho việc tế lễ.]

"Này Vāseṭṭha, ông nghĩ sao,

một tỳ-kheo sống như vậy có của cải hay không có của cải?"

"Không có của cải, bạch Thế Tôn."

"Tâm của vị ấy có oán thù hay không oán thù?"

"Không oán thù, bạch Thế Tôn."

"Tâm của vị ấy có sân hại hay không sân hại?"

"Không sân hại, bạch Thế Tôn."

"Tâm của vị ấy có ô nhiễm hay không ô nhiễm?"

"Không ô nhiễm, bạch Thế Tôn."

"Vị ấy có quyền năng hay không có quyền năng?"

"Có quyền năng, bạch Thế Tôn."

"Thì ra, này Vāseṭṭha, vị tỳ-kheo không có của cải, và Phạm thiên cũng không có của cải.

Vậy vị tỳ-kheo không có của cải ấy có thể hội tụ và gặp gỡ với Phạm thiên, đấng không có của cải, được không?"

"Đúng vậy, bạch Thế Tôn."

"Lành thay, này Vāseṭṭha! Chuyện vị tỳ-kheo không có của cải ấy, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ được tái sinh cùng sống chung với Phạm thiên, đấng không có của cải: điều ấy có thể xảy ra.

Thì ra, này Vāseṭṭha, vị tỳ-kheo không oán thù, và Phạm thiên cũng không oán thù;

vị tỳ-kheo không sân hại, và Phạm thiên cũng không sân hại;

vị tỳ-kheo không ô nhiễm, và Phạm thiên cũng không ô nhiễm;

vị tỳ-kheo có quyền năng, và Phạm thiên cũng có quyền năng. Vậy vị tỳ-kheo có quyền năng ấy có thể hội tụ và gặp gỡ với Phạm thiên, đấng có quyền năng, được không?"

"Đúng vậy, bạch Thế Tôn."

"Lành thay, này Vāseṭṭha! Chuyện vị tỳ-kheo có quyền năng ấy, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ được tái sinh cùng sống chung với Phạm thiên, đấng có quyền năng: điều ấy có thể xảy ra."

[Chú thích: Ở đây toàn bộ phần cuối của con đường tu tập tuần tự, phần liên quan đến tuệ, được lược bỏ, vì mục tiêu ở đây chỉ giới hạn trong việc dạy phép tái sinh cùng Phạm thiên cho những người bà-la-môn tại gia, chứ không dạy giải thoát. Về sau Vāseṭṭha và Bhāradvāja xin xuất gia, và khi ấy Đức Thế Tôn dạy con đường đầy đủ đến Niết-bàn (DN 27:7.8).]

Khi Ngài nói như vậy, hai thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja thưa với Đức Thế Tôn:

"Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn, thật tuyệt vời!

Bạch Thế Tôn, ví như có người dựng lại vật bị lật ngược, mở ra vật bị che kín, chỉ đường cho người đi lạc, hay thắp đèn dầu trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy được các sắc; cũng vậy, ngài Gotama đã làm sáng tỏ Pháp bằng nhiều cách.

Chúng con xin quy y ngài Gotama, quy y Pháp và Tăng đoàn tỳ-kheo.

[Chú thích: Hai ông cũng đã quy y trong một hoàn cảnh tương tự ở MN 98:14.4, tức Snp 3.9:69.3. Theo bản chú giải, đó là lần quy y thứ nhất, còn lần này là lần thứ hai; điều ấy hợp với tiến trình giáo pháp, vì ở đó họ bàn về điều gì làm nên một bà-la-môn, còn ở đây họ hỏi câu tinh tế hơn là làm sao được tái sinh cùng Phạm thiên. Dẫu vậy, các chi tiết của hai câu chuyện khó ăn khớp, vì mở đầu bài kinh này cho thấy hai ông nói về Đức Thế Tôn qua tiếng đồn chứ không phải như những người đã gặp Ngài và đã quy y trước đó.]

Xin ngài Gotama ghi nhận chúng con là những người cư sĩ đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời."

Kinh Ba Minh, bài thứ mười ba, đến đây kết thúc.

Phẩm Giới uẩn, đến đây kết thúc.


Tóm tắt phẩm:

Phạm Võng, Sa-môn Quả, Ambaṭṭha,

Soṇadaṇḍa, Kūṭadanta, Mahāli, Jāliya;

Đại Sư tử hống, Poṭṭhapāda, Subha, Kevaddha,

Lohicca, Ba Minh — ấy là mười ba bài.

Phẩm Giới uẩn, đến đây kết thúc.


Bảng thuật ngữ

PaliTiếng ViệtGhi chú
tevijjā brāhmaṇācác bà-la-môn tụng ba bộ Vệ-đàkhuôn cố định, lặp nhiều lần
brahmaPhạm thiên
brahmasahabyatā / sahavyatācùng sống chung với Phạm thiên
brahmavihārabốn tâm vô lượngtừ, bi, hỷ, xả
mettā / karuṇā / muditā / upekkhātừ / bi / hỷ / xả
magga / amaggacon đường / không phải con đường
ujumaggocon đường thẳng
añjasāyanolối đi ngay
niyyānikocon đường dẫn dắt
appāṭihīrakatakhông có cơ sở
netaṁ ṭhānaṁ vijatichuyện ấy không thể xảy ra
andhaveṇidãy người mù
sapariggahacó của cải
sabyāpajjhacó sân hại
vasavattīcó quyền năng
jhānathiền-na
abhiññāthắng trí

Xưng hô

Ai → aiTiếng Việt
Đức Thế Tôn → hai thanh niên"này Vāseṭṭha", "này Bhāradvāja"; đại từ "ông"
người kể → Đức Thế Tôn"Đức Thế Tôn", đại từ "Ngài"

Chỗ dễ dịch sai

ChỗDịch đúng
brahma trong brahmavihāraPhạm (tâm Phạm trú) — nhưng bản dịch dùng "bốn tâm vô lượng"
māṇavathanh niên (không phải "thanh niên Bà-la-môn" mỗi lần; chỉ nêu một lần đầu)
sahavyatācùng sống chung với — không phải "ở chung cõi"

Nguồn tham khảo

Nguyên bản

Ấn bản dùng để dịch<https://suttacentral.net/dn13/pli/ms>
Bản dịch Anh tham chiếuBhikkhu Sujato, The Three Knowledges: <https://suttacentral.net/dn13/en/sujato>
Chú thíchChú thích của Bhikkhu Sujato (CC0), dịch lại thành [Chú thích: …]

Lưu ý: tên bài trong bản Sujato là The Three Knowledges ("ba minh"), nhưng tevijjā trong bài này chỉ ba bộ Vệ-đà của bà-la-môn. Bản dịch tiếng Việt đặt tên bài là Kinh Ba Minh để giữ tên quen thuộc, và giải thích nghĩa đúng trong phần giới thiệu.

Các bản dịch khác đã đối chiếu

  • Thích Minh Châu, Trường Bộ Kinh (1991) — Kinh Tam Minh.
  • Maurice Walshe, The Long Discourses of the Buddha (1987) — The Threefold Knowledge.
  • T. W. Rhys Davids, Dialogues of the Buddha I (1899) — Tevijja Sutta.

Quan hệ với các bài khác

  • MN 98 / Snp 3.9: hai thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja cũng xuất hiện, trong hoàn cảnh tương tự; theo chú giải, đó là lần quy y thứ nhất của họ.
  • MN 95, MN 99: cùng dùng hình ảnh "người mù dắt người mù".
  • Bài 2 — Kinh Sa-môn Quả: nguồn của khối con đường tu tập ở mục 4 (bản Pali ghi tắt).

Bản Hán tương ứng

Bản Hán gần nhất là 《三明經》 ("Kinh Tam Minh"), Trường A-hàm 26 (長阿含經, Đại chánh tạng 1, kinh số 26). Bản Hán giữ cùng khung tranh luận và bốn tâm vô lượng, nhưng phần tra vấn rút gọn hơn.

Ghi chú dựng văn bản

  • Bài có 280 đoạn (segment).
  • Mục 4 mở bằng marker dạng gạch nối dn13:40-75.0, giữ đúng như nguồn.
  • Khối con đường tu tập trong mục 4 là peyyāla ghi tắt ở nguồn Pali: toàn bộ phần giới, định và tuệ được gói trong ba đoạn. Bản dịch giữ đúng ba đoạn ấy, dịch các chặng chính và đặt một chú thích chỉ sang Kinh Sa-môn Quả §4.3 — cùng cách đã dùng ở các bài 3 và 4.
  • Sáu đoạn cuối là bài kệ tóm tắt phẩm, liệt kê mười ba bài đầu; đây là dấu kết thúc phẩm Giới uẩn (Sīlakkhandha).
  • Chú thích Sujato có kèm liên kết HTML; khi đưa vào bản dịch đã bỏ liên kết, chỉ giữ nội dung.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →